Tổ Quốc -Danh Dự -Trách Nhiệm

Nam Nhân- Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Friday, July 17, 2009

Thư gửi Bác-sĩ Tôn Thất Sơn- Nguyễn Đức Chung

Thư gửi Bác-sĩ Tôn Thất Sơn,

Tôi Nguyễn Đức Chung đã nhận được thư ngỏ của ông gửi lên một số Diễn Đàn. và cá nhân tôi. Nhân đây tôi cũng xin lưu ý ông rằng chúng ta đã có thời gian chung một trại tù của bọn việt-gian cộng-sản sau 30 tháng Tư 1975 mà có thời ông làm đội trưởng, cho nên chúng ta quá hiểu nhau rồi.

Ông đã khuyên tôi nên đọc một số ý kiến của một số người khác viết về “người bạn già” của tôi, tức ông Việt Thường, để có cái nhìn hai chiều mà tránh đi cái nhìn “chủ quan”. Đọc tới đây, thú thật, tôi không có cái cách đọc như kiểu của ông, do đó tôi chỉ căn cứ vào những lời phát biểu trong các buổi nói chuyện, các cuộc trả lời phỏng vấn, các bài viết và sách của ông Việt Thường đã viết, mà đánh giá ông ta. Tôi có đủ mắt và óc của mình để nhận xét, phán đoán mà không cần ai giúp tôi qua mắt và óc của người khác để quan sát, nhận xét và kết luận theo kiểu của họ.

Khi gặp một người tuổi tác đã cao, dù đang làm một công việc bình thường nào đó và vì không được ăn học khi còn nhỏ, thông thường người ta luôn kính trọng tuổi tác của người ấy trước đã. Nhưng nếu là một con chó, thì con chó sẽ sẵn sàng nhảy xổ vào cắn ông già kia ngay. Hoặc một đứa trẻ vô giáo dục, thì sẽ ăn nói lấc cấc, hay có cử chỉ khiếm nhã với ông già nọ.

Cho nên, tôi không để ý đến những gì người khác suy nghĩ, phê phán về ông Việt Thường, mà quan trọng là những gì tôi nhận thức, suy nghĩ và phán đoán về ông Việt Thường thông qua các bài viết, các sách bằng giấy trắng mực đen, qua các cuộc phỏng vấn có ghi âm. Những điều này mới là căn bản để chúng ta đặt nền tảng tin tưởng vào một người, một sự vật, một chính nghĩa chẳng hạn.

Thí dụ theo cách viết của ông, thì chúng ta đã thấy số lượng người viết về Hồ chí Minh cả Việt Nam và ngoại quốc là bao nhiêu người. Sách vở, bài viết của những kẻ này ca tụng Hồ chí Minh là bao nhiêu cuốn, cả phim ảnh nữa. Và như vậy, muốn có cái nhìn hai chiều thì chúng ta nên theo đa số hay thiểu số đây?!

Nếu theo đa số, còn có cả quốc tế nữa, thì Hồ chí Minh là kẻ có công với dân tộc và đất nước Việt Nam mà! Như vậy theo ông Tôn Thất Sơn, chúng ta nên dùng óc của mình để phán đoán, dùng mắt của mình để nhận thức sự việc hay lại nhờ vào óc và mắt của những kẻ tung hô vạn tuế tên đại việt gian Hồ chí Minh???

Chính vì tôi là một nhân tố, không phải là con ngựa bị bịt mắt mà phải dùng đến mắt của anh nài cưỡi ngựa. Đó là chỗ khác nhau. Cũng vì chỗ khác nhau đó, qua cách sống ở trong tù của ông ra sao, chúng ta đã quá biết nhau.

Khi ra đến hải ngoại, ông đã tham gia Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, rồi để thời gian sau ông lại ra khỏi Mặt Trận. Như vậy theo ông, ông đã nhìn đủ hai chiều chưa? Và tôi cũng hiểu rằng vì nguyên nhân tâm lý trên mà ông có mặc cảm nên ông bênh vực Bùi Tín cũng chính là ông bênh vực cho ông vậy. Rằng ông cũng là một loại “Đồ tể buông đao thành Phật!”, nên ông cố tình bênh vực Bùi Tín là có lý do. Nhưng đó là khía cạnh cá nhân, nhưng chúng ta phải gạt bỏ cá nhân mà đặt quyền lợi của Dân Tộc và Đất Nước lên trên hết, và phải có cách nhìn thấu triệt hơn.

Để chứng minh, tôi xin lấy ngay việc ông đem chuyện một đứa trẻ hư hỏng ra để làm thí dụ, quả là gượng ép mà phi lý. Vì Bùi Tín không phải là một thằng bé con hư hỏng như ông mượn làm bằng. Mà Bùi Tín, việc hắn gia nhập đảng việt-gian cộng-sản là có ý thức hẳn hoi. Này nhé, hắn chứng tỏ lập trường của hắn qua việc từ bỏ cái họ Bùi của cha ông hắn mà đổi ra là Thành Tín, và chửi cả bố hắn. Mặc dù Bùi bằng Đoàn đã từng làm đến quyền chủ tịch quốc hội của ngụy quyền việt-gian cộng-sản. Trong cải cách ruộng đất, hắn đã sẵn sàng chửi cả dòng họ của hắn để bản thân được sống còn.

Chính Bùi Tín đã viết rằng trước 1975, hắn đã xâm nhập vào miền Nam chứ chẳng ai bịa chuyện này cả. Và, Bùi Tín công tác ra sao thì Bùi Tín không nói, nhưng Cụ Võ Tử Đản hiện đang định cư tại San José đã nhận diện và cho biết chính Bùi Tín cùng đồng bọn đã giết ông bố của Cụ Võ Tử Đản. Điều này chúng ta phải tin Cụ Võ Tử Đản. Chắc chắn Bùi Tín cùng đồng bọn không phải xâm nhập miền Nam để phát chẩn cho dân chúng, vì Bùi Tín là ngụy quân việt-gian cộng-sản với nhiệm vụ xâm nhập để giết người. Mặc dù Bùi Tín gân cổ lên để chạy tội, nhưng với một người bình thường thì chuyện này phải tin là có thật.

Sau khi ra hải ngoại, Bùi Tín đã viết sách và các bài bôi nhọ, mạ lỵ chính thể Việt nam Cộng Hòa, Quân lực Việt Nam Cộng-Hòa, mà trong đó, hắn mạt sát cả ông nữa ông TTS ạ. Chỉ trừ phi, ông coi việc gia nhập quân đội VNCH để bảo quốc an dân là một bất hạnh mà ông bị bắt buộc, thì việc Bùi Tín chửi QLVNCH coi như ông không có trong hàng ngũ này. Đấy là những hiện tượng mà chúng ta phải nhìn cho tường tận việc Bùi Tín đã làm những trò gì từ trước tới nay.

Chúng ta hãy nhìn lại thời gian trước khi Bùi Tín có những bài viết kêu gọi, thì không ai nói đến việc “Hòa Giải – Hòa Hợp”. Sau khi Bùi Tín lên tiếng thì tờ Thông-Luận bên Paris đã biến thành tiếng nói để cổ vũ cho thái độ “Hòa Gỉai – Hòa Hợp” và tiếp theo một số người khác cũng lên tiếng theo. Tiếp đến bao nhiêu tổ chức “từ-thiện” nở rộ sau lời kêu gọi “bốn quỹ tình thương” của Bùi Tín. Và bất kể Bùi Tín viết, nói ra điều gì là nhiều người hưởng ứng theo qua nhanh chóng, hăng say truyền tải của các bút nô, các băng đảng ma trơi, dân chủ cuội tại hải ngoại thổi phồng, đánh bóng. Những việc này thiết nghĩ không cần phải nhắc lại ở đây vì chúng tôi đã có viết và in thành sách hẳn hoi. Nhưng, nói cho vui vậy thôi, vì tôi biết rằng ông không có khả năng đọc sách. Nhưng nếu có thời giờ đọc sách thì ông cũng không có khả năng tiêu hóa được sách vở. Điều này không phải do tôi bịa, mà chính ông viết ra rằng ông không bao giờ đọc, hay đọc hết một bài viết của tác giả Việt Thường. Một khi không đọc bài viết của người ta mà lên tiếng phê phán thì quả là… ẩu ghê đi!

Phần ông, ông đang sinh hoạt và liên hệ với ai và bênh vực ai thì đã cho mọi người biết rõ lập trường của ông ra sao. Lập trường này hoàn toàn là lập trường của Việt Tân, mặc dù ông tuyên bố ông đã từ bỏ cái tổ chức bịp này rồi. Nên giữa ông và tôi không có gì để trao đổi hết, nhất là nếu ông cho vì mối quan hệ trong thời gian bị cầm tù của việt-gian cộng-sản.

Thư viết riêng cho tôi, ông lại viết công khai lên Diễn Đàn, thì ông đã tự hiểu ông đang chơi trò gì rồi. Và, tôi nói để ông biết rằng chắc chắn tôi phải tỉnh táo hơn ông. Lý do là tôi kém tuổi ông, tôi là lớp người đi sau, hưởng bổng lộc của VNCH cũng sau ông nhiều, nhưng tôi đã tỉnh táo để không gia nhập cái băng đảng mafia. Còn ông thì vì “ngây thơ” chính trị nên ông đã nhào vô rồi lại rút ra. Điều này chứng tỏ trong cuộc đời ông, ông đã có nhiều sai lầm lắm rồi và như vậy chúng ta không thể cùng chung một lập trường và chẳng có chuyện gì để nói cả.

Bản thân tôi đã từng viết nhiều bài mà ngay cả tập đoàn việt-gian cộng sản, và những kẻ có thể viết được một bài báo chẳng hạn như Bùi Tín đã có nhiều trang Web thân cộng, Web nằm vùng, Web đi đêm, kể cả đài phát thanh, truyền hình làm tay sai cho việt-gian cộng-sản sẵn sàng truyền tải các bài phản biện của Bùi Tín. Nhưng Bùi Tín đã không dám viết vì trình độc Bùi tín, hắn cao hơn ông gấp vạn lần, nhưng hắn chỉ có cái sai là hắn không có chính nghĩa thế thôi. Về trình độ hiểu biết và lý luận, Bùi Tín tự biết tự ngậm mỏ là hơn hết. Bằng không hắn càng nói càng thua, ngược lại ông chỉ theo voi hít bã mía!

Bằng dẫn chứng và lý luận, tôi đã viết gần trăm bài và cả sách. Phần ông những bài viết chua thêm vài câu và xa hơn nữa như kiểu kê danh sách người “Tử Tế” và “không tử tế” ít ra cũng được trên 40 dòng. Với trình dộ chênh lệch giữa chúng ta, y hệt như trình độc chuyên môn bác-sĩ của ông, mà đem ra nói cho một đứa trẻ lên mười tuổi thì nó không thể hiểu được. Và, đây cũng vậy.

Cho nên giữa chúng ta không có gì để nói công khai cả. Còn nếu muốn công khai thì tôi xin nói thẳng như vậy. Thà rằng mất lòng trước để biết đâu những năm tháng cuối đời còn lại ông hãy dẹp tự ái cá nhân lại, hy vọng rằng sẽ không ôm nỗi ân hận đã từng gia nhập cái Mặt Trận, rút khỏi Mặt Trận rồi nay lại muốn quay lại Việt Tân mà nói ra thì kỳ cục nên phải viết và phát biểu theo đuôi Việt Tân. Những kẻ mà ông nêu tên cùng chí hướng với ông và ông cho là bạn bè của ông thì mọi người, ai cũng biết họ là loại gì rồi. Không bao giờ có mặt tôi đứng bên cạnh ông đâu, đó là điều xác quyết của tôi. Ngoại trừ việc ông tư nhận xét đúng về con người của mình. Ngoài nghề Y, thì khả năng chính trị của ông rất là hạn hẹp không muốn nói là ấu trĩ (bằng chứng ông đã tham gia Mặt Trận và đã rút khỏi Mặt Trận). Cụ thể ông chưa bao giờ viết được một bài báo với trình độ hai, ba ngàn chữ, mà chỉ “ăn theo”. Lập trường của ông cũng vậy, những ai nêu sự thật và phê phán về Nguyễn chí Thiện thì ông đều coi là người “không tử tế”, còn việc ông ôm đít Bùi Tín và Nguyễn chí Thiện thì lại tự coi là “tử tế”. Nội việc này cũng đã hiểu rồi. Bùi Tín từ đâu mà ra, ông ôm đít Bùi Tín từ khi mà hắn chưa tuyên bố là hắn còn có sai lầm trong thời gian chục năm đầu mới ra hải ngoại. Chứng tỏ từ thời kỳ đó, ông đã theo đuôi Bùi Tín rồi. Đến nay, con tắc kè Bùi Tín phải đổ màu, nói lại cho phù hợp với tình hình và nhận thức của người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản thì ông lại nịnh, thổi tiếp. Nếu Bùi Tín không đổi màu thì làm sao nó có thể sống được và lừa được ai. Làm sao hắn có thể thực hiện được nhiệm vụ một tên “Đặc Công Đỏ”! Chúng ta phải nhìn vào việc làm của hắn. Trước đây, hắn tìm cách làm cho mọi người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản “quên quá khứ, xóa bỏ hận thù”, phỉ báng chế độ VNCH và QLVNCH cho tới Quốc kỳ của VNCH, sách của hắn vẫn còn đó! Cho tới nay, Bùi Tín đã có một lời nào xin lỗi và cho những hành động đó của hắn là sai không? Chưa bao giờ! Và, bây giờ, hắn lại hướng dẫn cho mọi người cũng từ đó hướng dẫn Nguyễn Tấn Dũng là phe thân Mỹ, đã về cách chức một loạt những tên tướng việt-gian cộng-sản ở quân khu thủ-đô Hà nội, thân Tàu. Cũng từ đó các ông a dua theo. Nay, Nguyễn Tấn Dũng theo ai thì mọi người đã rõ rồi! Không biết ông có theo dõi thời sự để mà biết không? Chúng ta chưa thấy Bùi Tín, hắn xin lỗi về việc tung tin vịt này. Gần đây hắn hướng dẫn dư luận rằng chỉ 15 tên chóp bu của đảng việt-gian cộng-sản là có tội. Rồi thì hướng dẫn mọi người theo dõi thình hình quốc hội ngụy quyền việt-gian cộng-sản. Mà ai trong chúng ta cũng biết rằng cái quốc-hội của này chỉ là lũ đấy tớ cho cái đảng việt-gian cộng-sản không hơn không kém. Như thế đầy tớ dám ý kiến với chủ của chúng sao? Và, bây giờ lại hướng hải ngoại về những tên phản tỉnh “CUỘI” mà có bao giờ ông nghĩ tới những đồng đội của ông đã từng chiến đấu, hy sinh và bao nhiêu thương binh VNCH, trong khi ông viết bảo vệ Bùi Tín thì ngược lại đã không viết cho bao đồng đội, thương binh và người dân VNCH đang còn bị việt-gian cộng-sản trả thù, đối xử tàn tệ trong gọng kìm sắt máu của chúng.

Riêng về Bùi Tín chỉ cần làm cái việc đúng với vị trí phản tỉnh của hắn là hắn hãy kể lại lý do nào hắn ra nhập cái đảng việt gian của hắn? Hắn từng sai lầm ra sao? Và, bây giờ nhân danh một người đã từng theo đảng việt-gian cộng-sản cả cha lẫn con cho tới khi ra hải ngoại, lý do nào hắn đã viết những cuốn sách Mặt Thật, Hoa Xuyên tuyết, Mây Mù Thể Kỷ ? Và bây giờ Bùi Tín hãy kêu gọi những người cầm bút trong nước là lũ bút nô, kêu gọi binh lính việt-gian cộng-sản hãy đồng loạt bỏ đảng, ra khỏi đảng việt-gian cộng-sản; bấy giờ chúng tôi mới tin được hắn. Còn chừng nào hắn vẫn còn lên mặt dạy các ông, những người học trò ngoan ngoãn như Tôn Thất Sơn và đồng bọn thì không bao giờ chúng tôi tin hắn cả. Và, hắn cũng chỉ thu phục những loại với trình độ chính trị như ông bác sĩ thôi hành nghề y mà thôi.

Đây là lần đầu và cũng là lần chót tôi trao đổi với ông và cũng công khai như ông đã công khai với tôi trên một số Diễn Đàn, để cho những ai thuộc loại ông tự phong là người “tử tế” với việt-gian cộng-sản và nằm vùng cũng hiểu được lập trường của tôi ra sao. Nhân đây tôi cũng xin nói thẳng cho biết rằng Nam Nhân chính là tôi. Và ông cũng đã biết rõ ông và tôi trước đây đã cùng nằm trong tù của việt-gian cộng-sản, chức vụ và quân binh chủng của tôi ra sao ông cũng biết rồi. Nhưng chưa bao giờ ông viết lên án những kẻ viết láo về tôi như mụ Đỗ thị Thuấn rằng tôi là dân đầu gấu Hải Phòng, vượt biên rồi sang làm bậy làm bạ ở bên Anh này không? Chỉ riêng chi tiết này cho thấy khi ông lên tiếng bênh vực tên việt-gian Bùi Tín mà chẳng biết mô tê gì về hắn cả thì lại lên tiếng bênh vực. Còn về tôi, ông biết tôi hẳn hoi mà người ta viết láo về tôi trên Diễn Đàn của ông, ông lại lặng thinh! Thì đủ biết ông đứng về phía nào và thuộc loại người ra sao rồi.

Chúc ông sáng suốt trong những năm cuối đời để khỏi phải viết cuốn hồi ký như vụ “Thằng Hèn Tô Hải” nữa.

Chào ông,

Anh quốc, ngày 04 tháng 7 năm 2009

Nguyễn Đức Chung

------------ --------- --------- --------- ----

From: Ton That Son
To: Nuoc_VIET@yahoogrou ps.com; nuoc_viet@yahoogrou ps.com; diendancongluan@ yahoo.com; Thao Luan ; phonang ; DienDan BaoChi
Sent: Tuesday, 30 June, 2009 13:23:47
Subject: [Nuoc_VIET] Vie^.t Thu+o+`ng: Tra? lo+`i thu+ O^ng NOG


Bạn Nguyễn Đức Chung thân mến,

1.Ba.n làngười '' tải văn '' cho ông Việt Thường tức

Nguyễn Hùng Văn lên NET trong bao nhiêu năm nay, đó

làquyền của Bạn.

Tuy nhiên Bạn cững nên đọc một số ý kiến về người

bạn giàcủa Bạn để có cái nhìn 2 chiều, như thế Bạn tránh

được nhiều chủ quan.

2.Trong cái vụ Bạn hay làông '' nhàbáo '' VT nhận định về Ộ

Bùi Tín, tôi có '' góp ý '' sau đây:

Tôi hiểu suy nghĩcủa Bạn về Bùi Tín bên dưới đây đại khái như sau '' Bạn cho rằng lời phát biểu của BT về thời gian sau này làđược, nhưng nếu đọc những lời phát biểu của ông ta về trước thì'' không tốt ''.

Tôi có thí dụ sau đây : một đứa trẻ 12-13 tuổi vìở xa gia

đình , bắt chước thói du côn du kềcủa bạn bè, tôi kết

luận thằng bé đó mất dạy . Bẵng đi 10 năm sau, tôi gặp

lại đứa bé đó, nay làmột cậu thanh niên chửng chạc sống

hoàthuận với gia đình vàlàmột sinh viên luật khoa giỏị

Như vậy , vào thời điểm hiện tại Bạn Chung vẫn muốn

tôi tiếp tục nhìn cậu thanh niên đó làkẻ mất dạy dùrằng

gia đình đã uốn nắn cậu ta thành người đàng hoàng tử

tế ???

So sánh với trường hợp Bùi Tín. Ông ta khi đào tỵ sang Pháp,

đã có sẵn chất CS luân lưu trong máu mấy chục năm, thì

thời gian đầu tiên ông ta nói lên những gìcòn bị CS ảnh hưởng. Nay, hình như 18-19 năm sau, ảnh hưởng CS nhạt

dần , vàông ta thấm nhuần dần dần môi trường và

lập trường QG , thế thìông ta tuyên bố đúng suy nghĩsau thời gian dài có lợi cho QG.

Thế sao Bạn vànhiều người khác còn khắc khe nhất định

không chấp nhận người '' chiêu hồi '' đó, luôn luôn

mắng chưở i người ta !! Như thế có phải làcố chấp và

qúa khích không ???

Thân mến,

T.th.Sơn


Friday, May 22, 2009

Bạch Thư Của Hòa Thượng Thích Tâm Châu-1966-Đại Nạn Của Phật Giáo và đất Nước



http://www.thuvienhoasen.org/thichtamchau-2.jpg

Bạch Thư Của Hòa Thượng Thích Tâm Châu : Đại Nạn Của Phật Giáo và đất Nước,

1966



Sang năm 1966, Đại Hội Giáo Hội lại bắt buộc tôi phải làm Viện Trưởng thêm một nhiệm kỳ nữa. Giáo Hội e ngại các tướng lãnh tranh giành ảnh hưởng nhau, không thể có cơ sở vững vàng để xây dựng đất nước được, Giáo Hội yêu cầu Hội Đồng Lập Hiến. Sự yêu cầu này được phát động khắp các cấp Giáo Hộị Nhưng chỉ trong vài tháng việc yêu cầu bầu cử Quốc Hội Lập Hiến đã được Chính Quyền các Tướng lãnh chấp nhận vào ngày 14-4-1966.

Sau khi phong trào bầu cử Quốc Hội Lập Hiến đã được thỏa mãn, nhân danh Viện Trưởng, tôi đã gửi thư thông cáo tới các nơi biết : ngưng sự tranh đấu, và chỉ đặt các chương trình xây dựng đạo pháp mà thôi.

Ngày 2 tháng 5 năm 1966 tôi đáp máy bay sang Colombo, thủ đô nước Tích Lan, cùng đại biểu Tăng Già các nước soạn thảo Hiến Chương và thành lập Giáo Hội Tăng Già Thế Giới bắt đầu từ ngày 6-5-1966. và tôi đảm trách chức vụ Phó Chủ Ti.ch.

Từ Tích Lan trở về, tôi ghé thăm Malaysia và Singapore để cảm ơn sự hộ trợ tinh thần trong cuộc tranh đấu 1963 vừa qua.

Vào 11 giờ sáng ngày 29-5-1966, tôi về tới Saigon, được tin đang có biểu tình trong thành phố Saigon và một số nơi khác tại miền Trung. Tôi không hiểu, khi tôi đi vắng, ở nhà có Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh, do đâu lại phát động lại phong trào tranh đấu ?

Tôi về tới VN Quốc Tự, bước chân vào cửa văn phòng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của tôi thì có một biểu ngữ nền vàng chữ đỏ ghi : "Muốn quần chúng tuân theo kỷ luật thì phải theo quần chúng". Tôi vào tới bàn giấy của tôi thì có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư : Yêu cầu các Thượng tọa trong Viện Hóa Đạo, không được theo Thượng tọa Tâm Châu".

Tôi định lên chánh điện VN Quốc Tự lễ Phật, tại đây có mấy các vị Tăng thanh niên không cho tôi vào chánh điện VN Quốc Tự và hăm dọa, ai muốn vào chùa hãy bước qua xác chết của ho..

Tôi vô cùng chán nản, không biết cách nào vãn hồi trật tự được. Tôi trở về chùa Từ Quang. Về chùa Từ Quang cũng có một đĩa máu, một con dao và huyết thư "Cấm tôi không được hoạt động nữa". Và, người trong chùa cho biết là họ hăm dọa sẽ đốt xe, ám sát. Và, chính các vị Tăng thanh niên đang tụ tập tại Niệm Phật Đường Quảng Đức (Bàn Cờ) định sang chùa Từ Quang giết tôi. May có Sư Cô Vân biết được, cấp báo cho tôi biết. Tôi trốn thoát. (4)

Từ đó, tôi phải đi nghỉ, nay tại nhà này, mai tại nhà khác, nay tại Viện Nhu Đạo Quang Trung, mai tại Nha Tuyên Úy Phật Giáo.

Từ đó, VN Quốc Tự bị Tăng Ni và quần chúng theo CS nắm giữ, thao túng, liên tục ngày này qua ngày khác, ra đường Trần Quốc Toản, ngã 6 Saigon - Chợ Lớn biểu tình, đả đảo và đốt hình nộm Tổng Thống Mỹ, Tướng Thiệu, Tướng Kỳ. Tôi không dám tới và làm việc tại Việt Nam Quốc Tự nữa.

Tại Huế, Đà Nẵng và vài nơi khác tại miền Trung cũng vậy, không sao vãn hồi được trật tư.. Lại thêm, sự xích mích giữa Tướng Nguyễn Chánh Thi và các Tướng tại Saigon. Nhóm Lập Trường ở Huế ra đời, đòi hỏi bầu Quốc Hội, đòi hỏi ngưng chiến tranh.

Kết cuộc, các Tướng Saigon mang quân ra vãn hồi trật tự miền Trung. Thượng Tọa Trí Quang cùng nhóm tranh đấu tại Huế, kêu gọi Phật tử đem bàn thờ Phật ra đường, để ngăn cản bước tiến của Quân Đội Chính Phủ, cho các cán bộ CS nằm vùng, trà trộn tẩu thoát.

Phong trào mang bàn thờ Phật ra đường lan tràn khắp nơi và vào cả đến Saigon. Tại Saigon họ đem ảnh Phật ra để trên đống rác.

Nhìn cảnh tượng ấy tôi cảm thấy đau lòng, liền ra một thông bạch yêu cầu Phật tử không nên đem Phật ra đường. Thượng Tọa Thiện Hoa Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đột nhiên ra một thông báo tán thành việc đem Phật ra đường. (5)

Tại Đà Nẵng cũng như một số nơi khác, ngoài việc đem Phật ra đường, còn ghìm súng, nấp sau tượng Phật bắn ra, khi quân đội tiến vào kiểm soát chùa.

Đem Phật ra đường rồi, Thượng Tọa Trí Quang vào Tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên tuyệt thực. Sau, chính phủ đưa Thượng Tọa Trí Quang vào Saigon, ở nhà bác sĩ Nguyễn Duy Tài. Thượng Tọa vẫn duy trì việc tuyệt thực (có uống nước thuốc dưỡng sức), cho đến khi chính phủ quân nhân y lời hứa hồi tháng 4-1966, bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 3-9-1966.

Sau khi thanh toán sự hỗn loạn tại Huế và một số tỉnh khác tại miền Trung, thì tại Đô thành Saigon, chính phủ cũng thanh toán xong nhóm náo loạn tại VN Quốc Tự. Tòa Đô Chính Saigon chính thức viết thư xin lỗi Giáo Hội : "Vì nạn bất đắc dĩ phải thanh toán nhóm náo loạn tại Việt Nam Quốc Tự, chứ thực tâm, chính phủ không dám xâm phạm vào tôn giáo".

Tôi trở về làm việc tại Việt Nam Quốc Tự, nhưng một số các vị tranh đấu nhất định không về. Các vị cho rằng, chính phủ xúc phạm đến tôn giáo và cho tôi là thân Chính Quyền. Tại miền Trung, Thượng Tọa Trí Quang cho tuyên truyền rằng : "Mỹ mua đứt Tâm Châu với 3 triệu Mỹ kim và cho tôi là cậu của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, đem quân đội ra tàn sát Phật tử miền Trung v.v...".

Đó là chỗ nẩy sinh ra sự mâu thuẫn giữa tôi và các vị tranh đấu. Từ chỗ mâu thuẫn ấy, tại Saigon, Thượng Tọa Trí Quang và nhóm tranh đấu vu khống cho tôi là người Mỹ cho tôi 1 triệu Mỹ kim và trả lương cho tôi mỗi tháng là 20 ngàn Mỹ kim. Thực ra, tôi chưa được một dollar của Mỹ, chứ nói chi đến vạn, đến triệu. (6)

Tôi vẫn nhẫn nại làm việc, tuân theo lời dạy của Hòa Thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết triệu tập Đại Hội Giáo Hội tại Việt Nam Quốc Tự từ chiều 21-10-1966.

Buổi chiều ngày 22-10-1966, Đại Hội mới duyệt xét chương trình nghị sự xong.

Bất ngờ, 3 giờ sáng ngày 23-10-1966, tại chùa Ấn Quang một số các Thượng Tọa đã lén lút thành lập Hội Đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất và đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Hoa làm Viện Trưởng, coi như lật đổ tôi. Từ đó có ra Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Ấn Quang.

Vậy, đâu là chỗ chia đôi và lũng đoạn Giáo Hội Thống Nhất ?

Sau đó, Viện Hóa Đạo Ấn Quang chuyển hướng theo đường hướng "Hòa Bình Khuynh Tả". Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử các vị ra nước ngoài liên lạc với các nhóm phản chiến, yêu cầu Mỹ rút quân, phản đối chính sách chống Cộng của Việt Nam Cộng Hòa, đòi hòa bình. Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử Thượng Tọa Nhất Hạnh làm Trưởng Phái Đoàn Hòa Bình bên cạnh Hòa Đàm Paris.

Ấn Quang là một Phật Học Đường danh tiếng, cung ứng cho nhu cầu phát triển Phật Giáo miền Nam rất nhiềụ Nhưng từ nửa năm 1966 trở đi, Ấn Quang đã bị cưỡng ép làm nơi tranh đấu của các vị ưa tranh đấu. Sang năm 1967, tôi triệu tập 8 Giáo Phái, Hội Đoàn tại VN Quốc Tự, tuyên bố rút lui chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Đại Hội đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Tường (người Nam), lên thay thế tôi làm Viện Trưởng. Và, Đại Hội này nhận thấy Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất đã bị chủ trương "nhất thống", tiêu diệt các Giáo Phái, Hội Đoàn, nên Đại Hội đã tu chính bản Hiến Chương ấy, cho phù hợp với các Giáo Phái, Hội Đoàn. Bản Hiến Chương tu chính này được thông báo cho chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu biết. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc luật 23/67 ngày 18/7/1967, công nhận Hiến Chương ấy.

Sau khi rút lui khỏi Viện Hóa Đạo, tôi trở ra chùa Từ Quang Vũng Tàu của tôi, vui cùng cảnh vật thiên nhiên, cho vơi bớt những sự ưu tư, vất vả.

Tại Saigon, Giáo Hội Thống Nhất Ấn Quang lại phát động phong trào tranh đấu, đòi hỏi không được tu chính Hiến Chương. (Thực vô lý, Ấn Quang chỉ có 3 Giáo Phái, Hội Đoàn, mặc dù Tăng Ni Phật tử đông. VN Quốc Tự có 8 Giáo Phái, Hội Đoàn - dù rằng người ít - vẫn có quyền tu chính Hiến Chương, chứ không phải hủy bỏ Hiến chương).

Đùng một cái, một hôm vào khoảng 7 giờ tối, một số Tăng tại chùa Ấn Quang, được sự hộ trợ của các dân biểu thân Ấn Quang có súng, như Kiều Mộng Thu v.v... đột nhập vào VN Quốc Tự bắt thượng Tọa Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Thiện Tường, cùng với rất đông chư Tăng, đem về nhốt tại chùa Ấn Quang. Ngày hôm sau, Nha Tuyên Úy Phật Giáo can thiệp, mời các vị Ấn Quang ra khỏi Việt Nam Quốc Tư.. Sau đó, Giáo Hội Thống Nhất tại VN Quốc Tự lại phải đề cử Thượng Tọa Thích Minh Thành (người Nam) lên làm Viện Trưởng.

Vẫn chưa yên. Lại một hôm khác, vào chập tối, phe Ấn Quang lại đem người, đem khí giới, tái chiếm VN Quốc Tự một lần nữa Lần này họ bắt hết Tăng chúng, lấy hết đồ đạc, nhiều máy may của VN Quốc Tự và đốt cháy một dãy nhà phía tay trái Quốc Tự. Nha Tuyên Úy Phật Giáo lại phải can thiệp để vãn hồi trật tư..

Sau biến cố này, Giáo Hội Thống Nhất tại VN Quốc Tự phải đề cử Thượng Tọa Thích Tâm Giác, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo, kiêm nhiệm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, mới yên.

Hai lần Ấn Quang đánh phá VN Quốc Tự như trên, hỏi ai làm nhơ nhớp cho lịch sử Phật Giáo VN ?

Sự việc rõ ràng như thanh thiên bạch nhật, mà nhóm tranh đấu của Ấn Quang, được sự hộ trợ ngầm của CS nằm vùng, lải nhải vu khống cho VN Quốc Tự chia rẽ Giáo Hội, Thích Tâm Châu phá hoại và lũng đoạn Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất. Thực như câu phương ngôn của Việt Nam thường nói : "Vừa đánh trống vừa ăn cướp, vừa ăn cướp vừa la làng". Cậy đông, lấy thịt đè người, mặc sức vu khống, thao túng không coi nhân quả là chi cả !

Cho đến nỗi những vị Tăng không biết chút gì về việc tranh đấu, việc xây dựng Giáo Hội, cũng như các vị Tăng, Ni Phật - từ ở xa, hay sau này, cũng a dua, hùa theo sự tuyên truyền nhồi sọ của nhóm tranh đấu Ấn Quang và CS nằm vùng trong suốt hơn 30 năm naỵ Thực tội nghiệp !

Nói thẳng thắn, cuộc chiến tranh Quốc Cộng tại Việt Nam, không có một tôn giáo, một đoàn thể nào, không bị CS nằm vùng gây chia rẽ, phá hoại. Thiên Chúa Giáo có những cán bộ gộc nằm vùng như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng v.v... Phật Giáo cũng vậy, CS nằm vùng từ thượng tầng, tới hạ tầng, càng dễ dàng hơn.

Thực sự, cuộc tranh đấu từ tháng 6-1966, cho đến nay chia đôi Giáo Hội, đều do bàn tay CS đạo diễn, làm hại cho Phật Giáo và quốc gia VN không nhỏ. Vì vậy, Phật Giáo không phải là không có trách nhiệm, liên đới đến sự để mất VNCH cho CS. Vấn đề này, chính Hòa Thượng Thích Huyền Quang cũng thường nhắc đi nhắc lại : CS từng tuyên bố : "Phật Giáo Ấn Quang hai lần có công với Cách Mạng".

* Vấn đề hòa hợp hòa giải và các tạp sự sau đó

Đầu thập kỷ 1970. hòa đàm Paris đang tiến đến hồi mặc cả có lợi nhiều cho CS, thì tại VN phe tranh đấu Ấn Quang, do Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, đã cho thành lập phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, do ông Vũ Văn Mẫu được coi là Thủ Lãnh. Phong trào này không được sự tán thành của hai Thượng Tọa Thiện Minh và Huyền Quang. Vì hai Thượng Tọa này không tán thành phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, nên Thượng Tọa Trí Quang và phe nhóm của Thượng Tọa đã tung ra một chiến dịch bôi bẩn Thượng Tọa Thiện Minh và Thượng Tọa Huyền Quang một cách tàn nhẫn. Cũng vi chiến dịch này, trong suốt một năm, Giáo Hội Thống Nhất Ấn Quang không thể triệu tập được Đại Hội để bầu cử chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo vì Thượng Tọa Thích Thiện Hoa đã viên tịch, khiến cho Thượng Tọa Thích Trí Thủ là một vị Tổng Vụ Trưởng phải đứng lên xử lý thường vụ.

Tình hình biến chuyển hoàn toàn bất lợi cho VNCH. Ngày 30-4-1975, là ngày cáo chung của chế độ VNCH. Những bộ mặt thân CS đã lộ rõ nguyên hình, không ai mà không rõ.

- Khi quân CS từ rừng về Saigon, đã có lần 500 Tăng, Ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra đón chàọ

- Ngày 19-5-1975, phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang.

- Hiệp Thương Chính Trị thống nhất hai miền Nam-Bắc của CS, một Thượng Tọa của phe Ấn Quang đã làm một bài tham luận, nịnh CS, kể công của Ấn Quang và đả kích Nha Tuyên Úy Phật Giáo cùng Giáo Hội Thích Tâm Châu.

- Vào khoảng năm 1980, 1981, chính Thượng Tọa Thích Trí Thủ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang cùng các vị cao cấp nhất phe tranh đấu Ấn Quang đã tích cực vận động thành lập và tham gia vào Giáo Hội Phật Giáo VN tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), mà người ta thường gọi là "Giáo Hội Quốc Doanh", hay "Giáo Hội Nhà Nước". Chỉ có các Thượng Tọa : Thiện Minh, Huyền Quang, Đức Nhuận, Quảng Độ và một số nhỏ các vị khác không tán thành, nên bị bắt hay bị giết.

- Vào khoảng năm 1986, 1887, Ông Gorbachev, Tổng Bí Thư Đảng CS Liên Xô chủ trương cởi mở, thì tại VN ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư Đảng CSVN cũng theo chủ trương ấy. Sau đó, Chủ Nghĩa CS bị tan rã tại Nga, tại Đông Âu, thì tại VN, hình thức chuyển hướng là sự cần thiết để sống còn của ho.. Họ đã cho các chùa được sinh hoạt tín ngưỡng một phần nào, trả một số cơ sở cho các chùa, cho một số thanh niên Tăng, Ni được học hỏi Phật Pháp. Và, có thể bước đầu thí nghiệm của họ, họ cho một số người nào đó, đòi hỏi quyền tự do dân chủ, để tiện dịp nhận diện những người quyết tâm tranh đấu, để có thể triệt hạ sau nàỵ

Hòa Thượng Thích Đôn Hậu đã khơi mở ra phong trào Phật Giáo Thống Nhất tại hải ngoại, và Hòa Thượng Thích Huyền Quang tiếp nối sự nghiệp ấy.

Tại Hoa Kỳ cũng tổ chức thống nhất rầm rộ. Kết cuộc có ra hai, ba Giáo Hội Thống Nhất. Tại Âu Châu, có nhiều Giáo Phái hoạt động riêng biệt. Nhưng có một số chùa, có các vị Tăng trung niên và thanh niên, kết hợp thành Giáo Hội Thống Nhất Âu Châụ Tại Úc, dân số VN tỵ nạn vào khoảng 150 ngàn người, Giáo Hội Thống Nhất Úc và Tân Tây Lan đã thành hình, với số Tăng, Ni ít ỏi, số chùa độ trên mươi ngôi, số Phật tử tới các chùa, tính chung lại vào khoảng 7, 8 ngàn người. Nội bộ Giáo Hội thì không ổn định và có vẻ phức tạp.

Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại VN, đang là người trỗi lên, đòi lại danh xưng và sự phục hoạt của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất. Hòa Thượng là người đầy đảm lược, đầy kinh nghiệm với chủ nghĩa CS. Tôi rất kính mến Hòa Thươ.ng. Tôi đã viết thư khích lệ Hòa Thươ.ng. Tôi luôn luôn cầu nguyện cho việc làm của Hòa Thượng được thành công viên mãn.

Cuộc tranh đấu hiện nay tại VN do Hòa Thượng Huyền Quang lãnh đạo thực vô cùng khó khăn. Khó khăn bởi bao mưu cơ, sảo thuật của Thích trí Quang cũ, nằm trong Giáo Hội Nhà Nước, ngăn trở. Khó khăn bởi Hiến Pháp CS bao vây. Khó khăn ngay trong nội bộ Giáo Hội Thống Nhất Ấn Chương "Tập quyền, kỳ thị" thiếu thiện cảm với các Giáo Phái Phật Giáo khác. Và, có thể có khó khăn với các tôn giáo khác, qua những nhận xét sâu xa. (7)

Tuy nhiên, CS là kẻ thù chung của nhân loạị Nhân loại xóa bỏ những mặc cảm riêng tư, và tích cực phục vụ chung cho chính nghĩạ Chính nghĩa quyết thắng. Chủ nghĩa CS không sao tránh khỏi luật đào thải, và chắc chắn phải nhường chỗ cho thể chế tự do, dân chủ của toàn dân VN.

* Kết luận

Giáo Pháp của đức Phật Thích Ca Mưu Ni thấm nhuần vào lòng dân VN đã gần hai ngàn năm. Phật Giáo đã hòa đồng cùng vận mệnh thịnh suy của dân tộc. Phật Giáo đã sản sinh những nhân vật đức hài hòa trong sự nghiệp cứu nước và dựng nước. Nhưng, đôi khi, Phật Giáo cũng bị những nhân vật cậy tài, ỷ thế, kỳ thị, thiếu sáng suốt, thiếu hỷ xả, gây tan nát cho đạo giáo và Quốc Gia không ít.

Phật Giáo tôn trọng tự do nhân chủ tuyệt đối, không chủ trương "tập quyền" cho một cá nhân hay một nhóm ngườị Vì, hễ có tập quyền là có độc tài, có bè phái, có những thủ đoạn để củng cố quyền lực.

Gần một thế kỷ nay, nhân loại bị đau khổ đến cùng cực bởi nạn "tập quyền" của CS. Ba mươi năm nay Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất chủ trương, "tập quyền" chưa thấy đem lại tia hy vọng hòa hợp và an lạc cho đại chúng. Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ triền miên trong sự chia rẽ, đã có hai, ba tổ chức thống nhất. Phật Giáo VN tại Úc, "tập quyền" thống nhất trong tay một nhân vật tham độc, thiếu tài đức, gây bè phái, kỳ thị Trung, Bắc, hãm hại huynh đệ đồng đạo, mặc cho gần trăm ngàn Phật tử VN tỵ nạn tại Úc không nơi nương tựa, mặc cho danh dự Phật Giáo VN bị tổn thương nặng nề !

Ôi, Phật Giáo VN ! Ôi, Phật Giáo VN !

Ai gây chi lắm niềm đau khổ,

Vũ trụ nài van đến nghẹn lời !

(Lửa thiêng đạo mầu)

Kính bạch Quý Ngài,

Kính thưa Quý vị,

Bạch thư này viết ra trong hoàn cảnh bất đắc dĩ. Bạch thư này được viết ra bằng những giòng lệ nóng thương đời, thương đạọ Bạch thư này ra đời, có người ưa có người không ưa, vì sự thật mất lòng. Nhưng, giả dối phải nhường chỗ cho sự thật, để cho Quốc Gia, cho Đạo Pháp được trường tồn, cho nhân dân VN được thức tỉnh, và cho nhân loại được hưởng niềm an lạc của chính pháp.

Cầu nguyện Tam Bảo từ bi gia hộ, chuyển hóa đất nước VN, đạo giáo VN, nhân dân VN sớm thoát khỏi ách CS, thành một nước tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc và thịnh vươ.ng. Chuyển hóa tâm niệm của các cấp Phật Giáo trong và ngoài nước, biết rõ mình, như lời Phật dạy, tiến tu và đạt tới đích giác ngộ, giải thoát. Cầu mong Quý Ngài và Quý vị luôn luôn được niềm an vui như ý, trong ánh đạo từ bi và trí tuệ.

Source: http://groups.google.com/group/ott.vietnamese/browse_thread/thread/d422e3c247fab49a/34a1d3f7bd9da762?hl=en&lnk=st&q= - 34a1d3f7bd9da762


Thích Tâm Châu (1921- ) là một vị hòa thượng Phật giáo Việt Nam. Ông từng là một vị lãnh đạo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

[sửa] Thân thế và hoạt động

Ông sinh tại Ninh Bình, Việt Nam, quy y học đạo từ năm 11 tuổi.

Ông là một thành viên sáng lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Huế năm 1951, sang năm sau thì được tôn là Phó chủ tịch hội đồng trị sự Giáo hội Tăng già Việt Nam.

Đầu thập niên 1960 thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, ông cùng Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh điều hành Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo để tranh đấu đòi bình quyền tôn giáo. Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời năm 1964 thì ông được chọn làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo hội.

So với đường lối đấu tranh kịch liệt chống chính phủ Việt Nam Cộng hòa của Thích Trí Quang (nhóm Ấn Quang) thì hòa thượng Thích Tâm Châu cổ động con đường trung hòa hơn[1] (thường gọi là nhóm Việt Nam Quốc tự hay nhóm Viện Hóa Đạo).

Sau năm 1975, ông tỵ nạn tại Canada và định cư tại Montréal, nơi ông sáng lập Tổ đình Từ Quang.

Hòa thượng hiện là Thượng thủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên thế giới[2].

Ông còn là một học giả Phật học với nhiều tác phẩm dịch thuật và khảo luận.

[sửa] Chú thích

  1. ^ http://library2.usask.ca/vietnam/index.php?state=view&id=906
  2. ^ http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=45&nid=136394

[sửa] Liên kết ngoài